Purslane, Portulaca oleraceae ….Rau Sam, Mã xì hiện …..#5

Some cool weight loss shakes vi images:

Purslane, Portulaca oleraceae ….Rau Sam, Mã xì hiện …..#5
weight loss shakes vi
Image by Vietnam Plants & The USA. plants
Taken on August 14, 2012 in Hewitt city, Texas state, Southern of America.

Vietnamese named : Rau Sam, Mã xì hiện.
Common names : Common Purslane, Verdolaga, Pigweed, Little Hogweed, Pusley, Purslane.
Scientist name : Portulaca oleraceae L.
Synonyms :
Family : Portulacaceae – Purslane family.
Kingdom :Plantae
(unranked) :Angiosperms
(unranked) :Eudicots
(unranked) :Core eudicots
Order :Caryophyllales
Genus :Portulaca
Species :P. oleracea

**** vi.wikipedia.org/wiki/Rau_sam
**** www.duoclieu.org/2012/01/rau-sam-toan-cay-portulaca-olera…

**** ykhoa.net/yhoccotruyen/voha/vh015.htm
Lương Y Võ Hà

Rau Sam là một loại rau mọc hoang, ăn được, không có độc tính, có nhiều chất bổ dưởng như sinh tố A, B1, B2, C, PP, một số khoáng chất và nhiều acid béo omega-3. Ngoài tác dụng thanh nhiệt, lương huyết, có thể cải thiện nồng độ cholesterol cao trong máu, rau Sam còn là một nguồn kháng sinh tự nhiên rất quý trong việc điều trị các chứng viêm nhiểm đường ruột và đường sinh dục tiết niệu.

Mô tả. Rau Sam còn có tên là Mã Xỉ Hiện vì có lá giống hình răng ngựa. Tên khoa học là Portulaca Oleracea L. thuộc họ Rau Sam Portulacea. Rau Sam là một loại cỏ dại sống quanh năm ở những vùng ẩm mát như bờ ruộng, bờ mương, ven đường hoặc mọc xen kẻ trong những luống hoa màu. Thân gồm nhiều cành mẩm, nhẳn, màu đỏ nhạt, mọc bò lan trên mặt đất. Lá hình bầu dục, phần đáy lá hơi nhọn, không cuống, phiến lá dày, mặt láng. Hoa màu vàng. Hạt màu đen. Ở nước ta rau Sam thường chỉ mọc hoang. Hiếm khi thấy rau Sam được gieo trồng hoặc bày bán làm thức ăn. Tuy nhiên nhiều gia đình ở nông thôn vẫn dùng rau Sam để luộc hoặc nấu canh ăn như những loại rau trồng khác. Rau Sam phơi khô làm thuốc thường được thu hái từ nguồn hoang dã vào mùa hè và mùa thu. Rau tươi có thể tìm thấy quanh năm ở những nơi ẩm mát.
Thành phần. Rau Sam bao gồm nhiều hoạt chất sinh học như chất đạm, chất béo, carbohydrate, một số khoáng chất và sinh tố. Theo Viện Vệ Sinh Hà Nội (1972), rau Sam thu hái tại Việt nam có 1,4% protid, 3% glucid, 1,3% tro, 85mg% calci, 5,6mg% phosphor, 1,5mg% sắt, 26mg% vitaC, 0,32mg% carotene, 0,03%mg vita.B1, 0,11mg% vita.B2, 0.07%mg vita.PP. Những nghiên cứu ở Đài Loan và Úc còn cho thấy trong rau Sam có nhiều potasium nitrate và calcium oxalate.

Tác dụng dược lý. Từ lâu y học dân gian nước ta thường dùng rau Sam làm thuốc sát trùng trong những chứng lở loét ngoài da, làm tiêu nhọt độc và làm lợi tiểu trong chứng tiểu buốt, tiểu rát Nhân dân Trung Quốc và Ấn Độ dùng rau Sam để trị bệnh ho, lao phổi, giải độc rắn hoặc côn trùng cắn. Người Ấn Độ còn dùng rau Sam làm thuốc co mạch. Dân Haiti và Thổ Nhỉ Kỳ dùng sau Sam để làm thuốc an thần, chữa bệnh mất ngủ. Nhiều vùng ở Trung Quốc, Thổ Nhỉ Kỳ, Brazil, Cộng Hoà Dominique dùng rau Sam để lọc máu, tiêu viêm, giảm đau. Nghiên cứu khoa học cho thấy rau Sam có tác dụng ngăn chặn sự phát triễn của vi trùng lỵ và thương hàn. Dịch chiết rau Sam bằng cồn etylic có hiệu quả rõ rệt đối với trực khuẩn Coli, kiết lỵ và thương hàn. Những nhà khoa học Mỹ và Úc còn cho biết trong rau Sam có nhiều acid béo Omega-3 có tác dụng rất tốt trong việc ngăn ngừa bệnh tim mạch và tăng cường sức miển dịch của cơ thể.

Theo Đông y rau Sam có vị chua tính lạnh, không có độc tính, vào ba kinh Tâm, Can và Đại trường, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết tiêu viêm, nhuận trường lợi tiểu, thường được dùng trong các chứng viêm nhiểm, lở ngứa, kiết lỵ.

Theo kinh nghiệm riêng của tác giả, rau Sam là một nguồn kháng sinh tự nhiên rất quý trong các chứng viêm nhiểm đường ruột và đường sinh dục, tiết niệu. Có một số trường hợp viêm cầu thận, viêm bàng quang hoặc viêm đường niệu đạo dây dưa nhiều ngày do vi trùng đã lờn thuốc kháng sinh Tây y nhưng lại đáp ứng rất tốt với rau Sam. Với liều khoảng 600gram rau tươi một ngày, sắc cô lại cho bệnh nhân uống mỗi 2 hoặc 3 giờ thường không quá một ngày các chứng buốt, rát, đau quặn đã biến mất.

Sau đây là một số cách sử dụng rau Sam đơn giản có thể thực hiện ở gia đình.

Chữa viêm cầu thận, viêm bàng quang, niệu đạo.

Rau Sam tươi 600gr

Gừng sống 7 đến 9 lát

Nấu sôi khoảng 400cc nước. Khi nước sôi lần lượt cho cả rau và gừng sống vào. Đảo qua lại vài lần. Chỉ sau khoảng 7 đến 10 phút là có thể chắt nước ra uống được. Thời gian nấu nhanh có thể bảo đảm được tối đa hoạt chất và chất bổ dưỡng. Khi uống cho thêm vào một chút muối. Chia ra uống làm nhiều lần trong ngày. Mỗi lần cách nhau khoảng 2 hoặc 3 giờ. Có thể ăn cả xác. Gừng sống trong bài có tác dụng hạn chế bớt tính hàn của rau Sam, không làm trệ tỳ lại có thể tăng cường chức năng khí hoá ở Thận và Bàng quang.

Chữa xơ vữa động mạch, làm hạ độ cholesterol trong máu.

Rau Sam tươi 100gr

Gừng sống 3 lát

Luộc hoặc nấu canh ăn hàng ngày. Ăn cả nước lẫn xác. Có thể thêm vào gia vị tuỳ thích. Thỉnh thoảng ăn mỗi đợt từ 5 đến 7 ngày.

Chữa khí hư, bạch đới ở phụ nữ.

Rau Sam tươi 100gr

Giả nát vắt lấy nước, hoà với 2 lòng trắng trứng gà, khuấy đều, hấp chín. Chia ra ăn làm 2 lần trong ngày. Ăn từ 3 đến 5 ngày.

Chữa kiết lỵ cấp tính.

Rau Sam tươi 100gr

Giả nát vắt lấy nước, đun nóng, cho thêm một chút mật ong hoặc đường đen vào để uống.

Chữa sán sơ mít.

Rau Sam tươi 100gr

Giả nước lọc lấy nước, cho thêm một chút muối và một muổng giấm, uống vào lúc sáng sớm khi bụng đói.

Chữa bệnh giun kim.

Rau Sam tươi 80gr

Giả nát lọc lấy nước, thêm một chút muối. Uống từ 3 đến 5 ngày.

Chữa mụn nhọt sang độc.

Rau Sam tươi một nắm.

Giả nát đấp lên mụn nhọt băng lại

Lưu ý: Vì rau Sam hoạt huyết và tính hàn nên không sử dụng cho người có thai. Với những bệnh nhân có thể tạng hư hàn, hay đi tiêu lõng, khi sử dụng rau Sam cần được phối hợp tốt với những vị thuốc cay, ấm để không làm trệ tỳ. Ngoài ra do hàm lượng nitrate và oxalate có trong rau Sam nên cần thận trọng khi dùng với người có tiền sử về sạn thận.

**** www.uphcm.edu.vn/caythuoc/index.php?q=node/332 : NHẤP VÀO LINK ĐỂ ĐỌC THÊM THÔNG TIN, rất cảm ơn.

Phân bố, sinh học và sinh thái:
Chi Portulaca có khoảng 40 loài phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ở Việt Nam có khoảng 4 loài mọc ở khắp nơi, thường mọc ở vườn, bãi sông, vườn trồng hoa, bãi hoang. Cây ưa sáng ưa ẩm, song cũng có thể chịu hạn.
Mùa hoa: tháng 2-3, mùa quả: tháng 4-6. Vòng đời: kéo dài 3-4 tháng

Bộ phận dùng:
Phần trên mặt đất (Herba Portulacae oleraceae), thu hái vào mùa hạ, mùa thu, dùng tươi.

Thành phần hóa học:
Phần trên mặt đất chứa nước, protein, chất béo, carbonhydrat, Ca, Fe, P, vitamin A, B, C; calci oxalat, tích lũy nitrat, sắc tố (betacyanidin acetyl hóa), glucosid, saponin, chất nhựa.

Tác dụng dược lý – Công dụng:
Tác dụng trên mạch máu: do tác dụng trên thần kinh trung ương và ngoại vi.
Tác dụng trên vi trùng: nước sắc 25% ức chế sự phát triển của vi trùng lỵ Shiga-Kruse, vi trùng lỵ, vi trùng thương hàn, trên trực khuẩn E. coli, trực trùng lỵ. Dùng ngoài và uống chữa mụn nhọt, sưng đau, trĩ.
Công dụng
Rau sam thường được dùng chữa lỵ trực khuẩn, lở ngứa, giun kim.
Dùng lợi tiểu, dùng ngoài trị mụn nhọt, viêm kết mạc cấp do vi khuẩn như tụ cầu, liên cầu và vi khuẩn khác.

**** Rau sam, Mã xì hiện – Portulaca oleracea L, thuộc họ Rau sam – Portulacaceae.

Mô tả: Cây thảo mọc bò có thân mập màu đỏ tím nhạt. Lá dày lông, hình bầu dục, không cuống, giống hình răng con ngựa. Hoa màu vàng, mọc ở đầu cành và ngọn thân. Quả nang, hình cầu, mở bằng một nắp (quả hộp) chứa nhiều hạt đen bóng.

Bộ phận dùng: Phần cây trên mặt đất – Herba Portulacae Oleraceae, thường có tên là Mã xì hiện.

Nơi sống và thu hái: Loài toàn thế giới, mọc hoang và cũng được trồng ở nơi ẩm mát. Thu hái cây vào mùa hè, mùa đông. Thường dùng tươi.

Thành phần hoá học: Trong cây có glycosid saponin, chất nhựa, acid hữu cơ, các muối kali, các vitamin A, B1, B2, C, PP và men ureaze.

Tính vị, tác dụng: Vị chua, tính hàn; có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp, lương huyết giải độc, trừ giun và hoạt trường. Rau sam có tác dụng làm co mạch, ức chế vi trùng lỵ, thương hàn, vi trùng gây bệnh ngoài da và bệnh ho lao.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường được dùng trị: 1. Lỵ vi khuẩn, viêm dạ dày và ruột cấp tính, viêm bàng quang; 2. Viêm ruột thừa cấp tính; 3. Viêm vú, trĩ xuất huyết, ho ra máu, đái ra máu; 4. Ký sinh trùng đường ruột (giun kim, giun đũa); 5. Sỏi niệu, giảm niệu; 6. Bạch đới. Liều dùng 15-30g, dạng thuốc sắc.

Dùng ngoài trị đinh nhọt sưng đau, ezema và lở ngứa, trẻ em lên đậu, chốc đầu.

Ðơn thuốc:

1. Lỵ: Rau sam giã nát, vắt lấy nước, đun sôi, chế thêm mật ong uống. Ở An Giang có đơn thuốc trị lỵ, đau bụng quặn, sốt, đi ngoài lẫn đờm, máu; Hoàng đằng 12g, Rau sam 20g, Rau trai 20g; đổ 500ml nước, sắc còn 150ml, uống ngày một thang.

2. Tẩy giun kim, giun đũa: Rau sam 50g rửa sạch, giã nhỏ với ít muối, thêm nước, vắt lấy nước trong, uống vào buổi tối (có thể thêm đường). Uông liền 3 tối, không nhịn ăn. Hoặc dùng 3 nắm to rau sam sắc lấy một bát nước uống lúc đói, uống 2-3 lần thì giun ra.

3. Ðái buốt, đái dắt: Rau sam tươi giã lấy nước cốt uống.

4. Ðau mắt có màng và cam mắt: rau sam tươi giã lấy dịch nhỏ vào mắt.

5. Xích, bạch đới: Rau sam tươi 100g, giã nát, vắt lấy nước, hoà với lòng trắng trứng gà, hấp chín, ăn liền trong 3 ngày.

6. Loét giác mạc, miệng lưỡi: Rau sam 16g. Cỏ nhọ nồi 16g, Rau má 20g nước 450ml, sắccòn 150ml, thêm vài hạt muối, ngày uống 1-2 lần. Có thể dùng rau sam luộc ăn.

__________________________________________________________________

**** www.pfaf.org/user/plant.aspx?LatinName=Portulaca+oleracea
**** www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/21718775
**** www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/11090998
**** www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/15287075

**** blog.emergencyoutdoors.com/wild-edible-plants-purslane-po…

The common Purslane or “Pusley”, made famous by Charles Dudley Warner, is no familiar that most people despise it as a mere weed. As a matter of fact, however, in many “victory-gardens” the crop of Purslane has more potential value for food than the ignorantly nursed or neglected planted crops.

When cooked and seasoned like spinach, the tender young branches make one of the most palatable of potherbs, with little loss of bulk in cooking, so that a small patch of vigorous plants clipped of their new tips and allowed to sprout again is sufficient to supply a table throughout summer.

The fatty or slimy quality of Purslane is sometimes objectionable, but by chopping the cooked tips and then baking with bread-crumbs and a beaten egg this disagreeable quality in entirely disguised.

It is truly surprising how few sophisticated Americans appreciate the esculent qualities of Purslane,, since our ancestors, both in America and in Europe, were fully cognizant of them. Thus we find the distinguished Manaseh Cutler, in the 18th century, stating that, as a potherb it is little inferior to asparahus, while in the 16th century John Gerarde wrote that “Rawe Purslane is much used in salads with oile, salt, and vinegar.”

Others speak of it as a palatable and easily procured pickle. Thus the always delightfully concrete John Evelyn in 1706 gave these detailed directions:

Lay the Stalks in an Earten-Pan; then cover them with Beer-Vinegar and Water, keeping them down with a competent Weight, to imbibe, three Days : Being taken out, put them into a Pot with as much White-wine Vinegar as will cover them again; and close the Lid with Paste, to keep in the Steam : Then set them on the Fire for three or four Hours, often shaking and stirring them : Then open the Cover, and turn and remove those Stalks which lie at the Bottom, to the Top, and boil them as before, till they are all a Colour. When all is cold, Pot them with Fresh White-wine Vinegar, and so you may preserve them the whole Year round.

Edible Parts : Stems, Leaves, Flowers
Uses
Purslane may be used fresh as a salad, stir-fried, or cooked as spinach is, and because of its mucilaginous quality it also is suitable for soups and stews. Australian Aborigines use the seeds to make seedcakes.

Greeks, who call it andrakla (αντράκλα) or glystrida (γλυστρίδα), fry the leaves and the stems with feta cheese, tomato, onion, garlic, oregano, and olive oil. In Turkey, besides being used in salads and in baked pastries, it is cooked as a vegetable similar to spinach.

According to Dr. Edward Palmer, the seeds of this and related species are used by the southwestern Indians for making mush or bread, the plants being placed in large piles, dried, and then pounded to free the seeds. Be sure first to wash off all mud and sad.

Therapeutic Uses
Purslane is widely used as a potherb in Mediterranean, central European and Asian countries.
Purslane is also widely used as an ingredient in a green salad. Tender stems and leaves are usually eaten raw, alone or with other greens. They are also cooked or pickled for consumption.
Purslane is used in various parts of the world to treat burns, headaches, stomach, intestinal and liver ailments, cough, shortness of breath and arthritis.
Purslane herb has also been used as a purgative, cardiac tonic, emollient, muscle relaxant, and in anti-inflammatory and diuretic treatments.
Purslane is popularly preserved for winter by pickling Purslane in apple cider vinegar with garlic cloves and peppercorns.
Purslane appears among a list of herbs considered to help benefit conditions such as osteoporosis and psoriasis.
Medicinal Uses

Purslane contains more omega-3 fatty acids (alpha-linolenic acid in particular) than any other leafy vegetable plant. Research published by Simopoulos states that Purslane has 0.01 mg/g of eicosapentaenoic acid (EPA). This is an extraordinary amount of EPA for a land-based vegetable source. EPA is an Omega-3 fatty acid found mostly in fish, some algae, and flax seeds.It also contains vitamins (mainly vitamin A, vitamin C, and some vitamin B and carotenoids), as well as dietary minerals, such as magnesium, calcium, potassium, and iron. Also present are two types of betalain alkaloid pigments, the reddish betacyanins (visible in the coloration of the stems) and the yellow betaxanthins (noticeable in the flowers and in the slight yellowish cast of the leaves). Both of these pigment types are potent antioxidants and have been found to have antimutagenic properties in laboratory studies

Known as Ma Chi Xian (pinyin: translates as “horse tooth amaranth”) in traditional Chinese medicine, its active constituents include: noradrenaline, calcium salts, dopamine, DOPA, malic acid, citric acid, glutamic acid, asparagic acid, nicotinic acid, alanine, glucose, fructose, and sucrose.Betacyanins isolated from Portulaca oleracea ameliorated cognition deficits in aged mice. Use is contraindicated during pregnancy and for those with cold and weak digestion. Purslane is a clinically effective treatment for oral lichen planus, and its leaves are used to treat insect or snake bites on the skin, boils, sores, pain from bee stings, bacillary dysentery, diarrhea, hemorrhoids, postpartum bleeding, and intestinal bleeding.

**** en.wikipedia.org/wiki/Portulaca_oleracea
Portulaca oleracea (Common Purslane, also known as Verdolaga, Pigweed, Little Hogweed, or Pusley, and Moss rose), is an annual succulent in the family Portulacaceae, which may reach 40 cm in height. Approximately forty varieties currently are cultivated.[1] It has an extensive Old World distribution extending from North Africa through the Middle East (called الرجلة or البقلة) and the Indian Subcontinent to Malesia and Australasia. The species status in the New World is uncertain: in general, it is considered an exotic weed, however, there is evidence that the species was in Crawford Lake deposits (Ontario) in 1430-89 AD, suggesting that it reached North America in the pre-Columbian era.[2] It is naturalised elsewhere and in some regions is considered an invasive weed. It has smooth, reddish, mostly prostrate stems and alternate leaves clustered at stem joints and ends. The yellow flowers have five regular parts and are up to 6 mm wide. Depending upon rainfall, the flowers appear at anytime during the year. The flowers open singly at the center of the leaf cluster for only a few hours on sunny mornings. Seeds are formed in a tiny pod, which opens when the seeds are mature. Purslane has a taproot with fibrous secondary roots and is able to tolerate poor, compacted soils and drought.

Culinary usage
Although purslane is considered a weed in the United States, it may be eaten as a leaf vegetable. It has a slightly sour and salty taste and is eaten throughout much of Europe, the middle east, Asia, and Mexico.[1][3] The stems, leaves and flower buds are all edible. Purslane may be used fresh as a salad, stir-fried, or cooked as spinach is, and because of its mucilaginous quality it also is suitable for soups and stews. Australian Aborigines use the seeds to make seedcakes. Greeks, who call it andrakla (αντράκλα) or glystrida (γλυστρίδα), fry the leaves and the stems with feta cheese, tomato, onion, garlic, oregano, and olive oil, add it in salads, boil it or add to casseroled chicken. In Turkey, besides being used in salads and in baked pastries, it is cooked as a vegetable similar to spinach. In the south of Portugal (Alentejo), "baldroegas" are used as a soup ingredient. Because of its high water content Purslane cooks down quite a bit. Pick more than you think you will need. Makes a quick cold soup in hot weather by cooking and blending together with other vegetables.
Purslane contains more omega-3 fatty acids (alpha-linolenic acid in particular[4]) than any other leafy vegetable plant. Research published by Artemis P. Simopoulos states that Purslane has 0.01 mg/g of eicosapentaenoic acid (EPA). This is an extraordinary amount of EPA for a land-based vegetable source. EPA is an Omega-3 fatty acid found mostly in fish, some algae, and flax seeds.[5] It also contains vitamins (mainly vitamin A, vitamin C, and some vitamin B and carotenoids), as well as dietary minerals, such as magnesium, calcium, potassium, and iron. Also present are two types of betalain alkaloid pigments, the reddish betacyanins (visible in the coloration of the stems) and the yellow betaxanthins (noticeable in the flowers and in the slight yellowish cast of the leaves). Both of these pigment types are potent antioxidants and have been found to have antimutagenic properties in laboratory studies.[6]
100 Grams of fresh purslane leaves (about 1 cup) contain 300 to 400 mg of alpha-linolenic acid.[7] One cup of cooked leaves contains 90 mg of calcium, 561 mg of potassium, and more than 2,000 IUs of vitamin A. A half-cup of purslane leaves contains as much as 910 mg of oxalate, a compound implicated in the formation of kidney stones, however, note that many common vegetables, such as spinach, also can contain high concentrations of oxalates.
When stressed by low availability of water, purslane, which has evolved in hot and dry environments, switches to photosynthesis using Crassulacean acid metabolism (the CAM pathway): At night its leaves trap carbon dioxide, which is converted into malic acid (the souring principle of apples), and, in the day, the malic acid is converted into glucose. When harvested in the early morning, the leaves have ten times the malic acid content as when harvested in the late afternoon, and thus have a significantly more tangy taste

Traditional medicine
Known as Ma Chi Xian (pinyin: translates as "horse tooth amaranth") in traditional Chinese medicine, its active constituents include: noradrenaline, calcium salts, dopamine, DOPA[disambiguation needed], malic acid, citric acid, glutamic acid, asparagic acid, nicotinic acid, alanine, glucose, fructose, and sucrose.[8] Betacyanins isolated from Portulaca oleracea ameliorated cognition deficits in aged mice.[9] Use is contraindicated during pregnancy and for those with cold and weak digestion.[8] Purslane is a clinically effective treatment for oral lichen planus,[10] and its leaves are used to treat insect or snake bites on the skin,[11] boils, sores, pain from bee stings, bacillary dysentery, diarrhea, hemorrhoids, postpartum bleeding, and intestinal bleeding

Companion plant
As a companion plant, Purslane provides ground cover to create a humid microclimate for nearby plants, stabilizing ground moisture. Its deep roots bring up moisture and nutrients that those plants can use, and some, including corn, will "follow" purslane roots down through harder soil that they cannot penetrate on their own. It is known as a beneficial weed in places that do not already grow it as a crop in its own right.

History

Widely used in East Mediterranean countries, archaeobotanical finds are common at many prehistoric sites. In historic contexts, seeds have been retrieved from a protogeometric layer in Kastanas, as well as from the Samian Heraion dating to seventh century B.C. In the fourth century B.C., Theophrastus names purslane, andrákhne (ἀνδράχνη), as one of the several summer pot herbs that must be sown in April (H.P 7.12).[12] As portulaca it figures in the long list of comestibles enjoyed by the Milanese given by Bonvesin de la Riva in his "Marvels of Milan" (1288).[13]
In antiquity, its healing properties were thought so reliable that Pliny advised wearing the plant as an amulet to expel all evil (Natural History 20.120).[12]
Purslane is one of the seven herbs used in the symbolic dish served at the nanakusa-no-sekku (七草の節句), the traditional Japanese new year ritual.
A common plant in parts of India, purslane is known as Sanhti, Punarva, or Kulfa.

Popular Culture

The name Verdolaga, associated with the plant that grows in South America is a nickname for Football clubs with green-white schemes in their uniforms, such as Colombia’s Atletico Nacional and Argentina’s Ferrocarril Oeste.

Purslane, Portulaca oleraceae ….Rau Sam, Mã xì hiện …..#4
weight loss shakes vi
Image by Vietnam Plants & The USA. plants
Taken on August 14, 2012 in Hewitt city, Texas state, Southern of America.

Vietnamese named : Rau Sam, Mã xì hiện.
Common names : Common Purslane, Verdolaga, Pigweed, Little Hogweed, Pusley, Purslane.
Scientist name : Portulaca oleraceae L.
Synonyms :
Family : Portulacaceae – Purslane family.
Kingdom :Plantae
(unranked) :Angiosperms
(unranked) :Eudicots
(unranked) :Core eudicots
Order :Caryophyllales
Genus :Portulaca
Species :P. oleracea

**** vi.wikipedia.org/wiki/Rau_sam
**** www.duoclieu.org/2012/01/rau-sam-toan-cay-portulaca-olera…

**** ykhoa.net/yhoccotruyen/voha/vh015.htm
Lương Y Võ Hà

Rau Sam là một loại rau mọc hoang, ăn được, không có độc tính, có nhiều chất bổ dưởng như sinh tố A, B1, B2, C, PP, một số khoáng chất và nhiều acid béo omega-3. Ngoài tác dụng thanh nhiệt, lương huyết, có thể cải thiện nồng độ cholesterol cao trong máu, rau Sam còn là một nguồn kháng sinh tự nhiên rất quý trong việc điều trị các chứng viêm nhiểm đường ruột và đường sinh dục tiết niệu.

Mô tả. Rau Sam còn có tên là Mã Xỉ Hiện vì có lá giống hình răng ngựa. Tên khoa học là Portulaca Oleracea L. thuộc họ Rau Sam Portulacea. Rau Sam là một loại cỏ dại sống quanh năm ở những vùng ẩm mát như bờ ruộng, bờ mương, ven đường hoặc mọc xen kẻ trong những luống hoa màu. Thân gồm nhiều cành mẩm, nhẳn, màu đỏ nhạt, mọc bò lan trên mặt đất. Lá hình bầu dục, phần đáy lá hơi nhọn, không cuống, phiến lá dày, mặt láng. Hoa màu vàng. Hạt màu đen. Ở nước ta rau Sam thường chỉ mọc hoang. Hiếm khi thấy rau Sam được gieo trồng hoặc bày bán làm thức ăn. Tuy nhiên nhiều gia đình ở nông thôn vẫn dùng rau Sam để luộc hoặc nấu canh ăn như những loại rau trồng khác. Rau Sam phơi khô làm thuốc thường được thu hái từ nguồn hoang dã vào mùa hè và mùa thu. Rau tươi có thể tìm thấy quanh năm ở những nơi ẩm mát.
Thành phần. Rau Sam bao gồm nhiều hoạt chất sinh học như chất đạm, chất béo, carbohydrate, một số khoáng chất và sinh tố. Theo Viện Vệ Sinh Hà Nội (1972), rau Sam thu hái tại Việt nam có 1,4% protid, 3% glucid, 1,3% tro, 85mg% calci, 5,6mg% phosphor, 1,5mg% sắt, 26mg% vitaC, 0,32mg% carotene, 0,03%mg vita.B1, 0,11mg% vita.B2, 0.07%mg vita.PP. Những nghiên cứu ở Đài Loan và Úc còn cho thấy trong rau Sam có nhiều potasium nitrate và calcium oxalate.

Tác dụng dược lý. Từ lâu y học dân gian nước ta thường dùng rau Sam làm thuốc sát trùng trong những chứng lở loét ngoài da, làm tiêu nhọt độc và làm lợi tiểu trong chứng tiểu buốt, tiểu rát Nhân dân Trung Quốc và Ấn Độ dùng rau Sam để trị bệnh ho, lao phổi, giải độc rắn hoặc côn trùng cắn. Người Ấn Độ còn dùng rau Sam làm thuốc co mạch. Dân Haiti và Thổ Nhỉ Kỳ dùng sau Sam để làm thuốc an thần, chữa bệnh mất ngủ. Nhiều vùng ở Trung Quốc, Thổ Nhỉ Kỳ, Brazil, Cộng Hoà Dominique dùng rau Sam để lọc máu, tiêu viêm, giảm đau. Nghiên cứu khoa học cho thấy rau Sam có tác dụng ngăn chặn sự phát triễn của vi trùng lỵ và thương hàn. Dịch chiết rau Sam bằng cồn etylic có hiệu quả rõ rệt đối với trực khuẩn Coli, kiết lỵ và thương hàn. Những nhà khoa học Mỹ và Úc còn cho biết trong rau Sam có nhiều acid béo Omega-3 có tác dụng rất tốt trong việc ngăn ngừa bệnh tim mạch và tăng cường sức miển dịch của cơ thể.

Theo Đông y rau Sam có vị chua tính lạnh, không có độc tính, vào ba kinh Tâm, Can và Đại trường, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết tiêu viêm, nhuận trường lợi tiểu, thường được dùng trong các chứng viêm nhiểm, lở ngứa, kiết lỵ.

Theo kinh nghiệm riêng của tác giả, rau Sam là một nguồn kháng sinh tự nhiên rất quý trong các chứng viêm nhiểm đường ruột và đường sinh dục, tiết niệu. Có một số trường hợp viêm cầu thận, viêm bàng quang hoặc viêm đường niệu đạo dây dưa nhiều ngày do vi trùng đã lờn thuốc kháng sinh Tây y nhưng lại đáp ứng rất tốt với rau Sam. Với liều khoảng 600gram rau tươi một ngày, sắc cô lại cho bệnh nhân uống mỗi 2 hoặc 3 giờ thường không quá một ngày các chứng buốt, rát, đau quặn đã biến mất.

Sau đây là một số cách sử dụng rau Sam đơn giản có thể thực hiện ở gia đình.

Chữa viêm cầu thận, viêm bàng quang, niệu đạo.

Rau Sam tươi 600gr

Gừng sống 7 đến 9 lát

Nấu sôi khoảng 400cc nước. Khi nước sôi lần lượt cho cả rau và gừng sống vào. Đảo qua lại vài lần. Chỉ sau khoảng 7 đến 10 phút là có thể chắt nước ra uống được. Thời gian nấu nhanh có thể bảo đảm được tối đa hoạt chất và chất bổ dưỡng. Khi uống cho thêm vào một chút muối. Chia ra uống làm nhiều lần trong ngày. Mỗi lần cách nhau khoảng 2 hoặc 3 giờ. Có thể ăn cả xác. Gừng sống trong bài có tác dụng hạn chế bớt tính hàn của rau Sam, không làm trệ tỳ lại có thể tăng cường chức năng khí hoá ở Thận và Bàng quang.

Chữa xơ vữa động mạch, làm hạ độ cholesterol trong máu.

Rau Sam tươi 100gr

Gừng sống 3 lát

Luộc hoặc nấu canh ăn hàng ngày. Ăn cả nước lẫn xác. Có thể thêm vào gia vị tuỳ thích. Thỉnh thoảng ăn mỗi đợt từ 5 đến 7 ngày.

Chữa khí hư, bạch đới ở phụ nữ.

Rau Sam tươi 100gr

Giả nát vắt lấy nước, hoà với 2 lòng trắng trứng gà, khuấy đều, hấp chín. Chia ra ăn làm 2 lần trong ngày. Ăn từ 3 đến 5 ngày.

Chữa kiết lỵ cấp tính.

Rau Sam tươi 100gr

Giả nát vắt lấy nước, đun nóng, cho thêm một chút mật ong hoặc đường đen vào để uống.

Chữa sán sơ mít.

Rau Sam tươi 100gr

Giả nước lọc lấy nước, cho thêm một chút muối và một muổng giấm, uống vào lúc sáng sớm khi bụng đói.

Chữa bệnh giun kim.

Rau Sam tươi 80gr

Giả nát lọc lấy nước, thêm một chút muối. Uống từ 3 đến 5 ngày.

Chữa mụn nhọt sang độc.

Rau Sam tươi một nắm.

Giả nát đấp lên mụn nhọt băng lại

Lưu ý: Vì rau Sam hoạt huyết và tính hàn nên không sử dụng cho người có thai. Với những bệnh nhân có thể tạng hư hàn, hay đi tiêu lõng, khi sử dụng rau Sam cần được phối hợp tốt với những vị thuốc cay, ấm để không làm trệ tỳ. Ngoài ra do hàm lượng nitrate và oxalate có trong rau Sam nên cần thận trọng khi dùng với người có tiền sử về sạn thận.

**** www.uphcm.edu.vn/caythuoc/index.php?q=node/332 : NHẤP VÀO LINK ĐỂ ĐỌC THÊM THÔNG TIN, rất cảm ơn.

Phân bố, sinh học và sinh thái:
Chi Portulaca có khoảng 40 loài phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ở Việt Nam có khoảng 4 loài mọc ở khắp nơi, thường mọc ở vườn, bãi sông, vườn trồng hoa, bãi hoang. Cây ưa sáng ưa ẩm, song cũng có thể chịu hạn.
Mùa hoa: tháng 2-3, mùa quả: tháng 4-6. Vòng đời: kéo dài 3-4 tháng

Bộ phận dùng:
Phần trên mặt đất (Herba Portulacae oleraceae), thu hái vào mùa hạ, mùa thu, dùng tươi.

Thành phần hóa học:
Phần trên mặt đất chứa nước, protein, chất béo, carbonhydrat, Ca, Fe, P, vitamin A, B, C; calci oxalat, tích lũy nitrat, sắc tố (betacyanidin acetyl hóa), glucosid, saponin, chất nhựa.

Tác dụng dược lý – Công dụng:
Tác dụng trên mạch máu: do tác dụng trên thần kinh trung ương và ngoại vi.
Tác dụng trên vi trùng: nước sắc 25% ức chế sự phát triển của vi trùng lỵ Shiga-Kruse, vi trùng lỵ, vi trùng thương hàn, trên trực khuẩn E. coli, trực trùng lỵ. Dùng ngoài và uống chữa mụn nhọt, sưng đau, trĩ.
Công dụng
Rau sam thường được dùng chữa lỵ trực khuẩn, lở ngứa, giun kim.
Dùng lợi tiểu, dùng ngoài trị mụn nhọt, viêm kết mạc cấp do vi khuẩn như tụ cầu, liên cầu và vi khuẩn khác.

**** Rau sam, Mã xì hiện – Portulaca oleracea L, thuộc họ Rau sam – Portulacaceae.

Mô tả: Cây thảo mọc bò có thân mập màu đỏ tím nhạt. Lá dày lông, hình bầu dục, không cuống, giống hình răng con ngựa. Hoa màu vàng, mọc ở đầu cành và ngọn thân. Quả nang, hình cầu, mở bằng một nắp (quả hộp) chứa nhiều hạt đen bóng.

Bộ phận dùng: Phần cây trên mặt đất – Herba Portulacae Oleraceae, thường có tên là Mã xì hiện.

Nơi sống và thu hái: Loài toàn thế giới, mọc hoang và cũng được trồng ở nơi ẩm mát. Thu hái cây vào mùa hè, mùa đông. Thường dùng tươi.

Thành phần hoá học: Trong cây có glycosid saponin, chất nhựa, acid hữu cơ, các muối kali, các vitamin A, B1, B2, C, PP và men ureaze.

Tính vị, tác dụng: Vị chua, tính hàn; có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp, lương huyết giải độc, trừ giun và hoạt trường. Rau sam có tác dụng làm co mạch, ức chế vi trùng lỵ, thương hàn, vi trùng gây bệnh ngoài da và bệnh ho lao.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường được dùng trị: 1. Lỵ vi khuẩn, viêm dạ dày và ruột cấp tính, viêm bàng quang; 2. Viêm ruột thừa cấp tính; 3. Viêm vú, trĩ xuất huyết, ho ra máu, đái ra máu; 4. Ký sinh trùng đường ruột (giun kim, giun đũa); 5. Sỏi niệu, giảm niệu; 6. Bạch đới. Liều dùng 15-30g, dạng thuốc sắc.

Dùng ngoài trị đinh nhọt sưng đau, ezema và lở ngứa, trẻ em lên đậu, chốc đầu.

Ðơn thuốc:

1. Lỵ: Rau sam giã nát, vắt lấy nước, đun sôi, chế thêm mật ong uống. Ở An Giang có đơn thuốc trị lỵ, đau bụng quặn, sốt, đi ngoài lẫn đờm, máu; Hoàng đằng 12g, Rau sam 20g, Rau trai 20g; đổ 500ml nước, sắc còn 150ml, uống ngày một thang.

2. Tẩy giun kim, giun đũa: Rau sam 50g rửa sạch, giã nhỏ với ít muối, thêm nước, vắt lấy nước trong, uống vào buổi tối (có thể thêm đường). Uông liền 3 tối, không nhịn ăn. Hoặc dùng 3 nắm to rau sam sắc lấy một bát nước uống lúc đói, uống 2-3 lần thì giun ra.

3. Ðái buốt, đái dắt: Rau sam tươi giã lấy nước cốt uống.

4. Ðau mắt có màng và cam mắt: rau sam tươi giã lấy dịch nhỏ vào mắt.

5. Xích, bạch đới: Rau sam tươi 100g, giã nát, vắt lấy nước, hoà với lòng trắng trứng gà, hấp chín, ăn liền trong 3 ngày.

6. Loét giác mạc, miệng lưỡi: Rau sam 16g. Cỏ nhọ nồi 16g, Rau má 20g nước 450ml, sắccòn 150ml, thêm vài hạt muối, ngày uống 1-2 lần. Có thể dùng rau sam luộc ăn.

__________________________________________________________________

**** www.pfaf.org/user/plant.aspx?LatinName=Portulaca+oleracea
**** www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/21718775
**** www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/11090998
**** www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/15287075

**** blog.emergencyoutdoors.com/wild-edible-plants-purslane-po…

The common Purslane or “Pusley”, made famous by Charles Dudley Warner, is no familiar that most people despise it as a mere weed. As a matter of fact, however, in many “victory-gardens” the crop of Purslane has more potential value for food than the ignorantly nursed or neglected planted crops.

When cooked and seasoned like spinach, the tender young branches make one of the most palatable of potherbs, with little loss of bulk in cooking, so that a small patch of vigorous plants clipped of their new tips and allowed to sprout again is sufficient to supply a table throughout summer.

The fatty or slimy quality of Purslane is sometimes objectionable, but by chopping the cooked tips and then baking with bread-crumbs and a beaten egg this disagreeable quality in entirely disguised.

It is truly surprising how few sophisticated Americans appreciate the esculent qualities of Purslane,, since our ancestors, both in America and in Europe, were fully cognizant of them. Thus we find the distinguished Manaseh Cutler, in the 18th century, stating that, as a potherb it is little inferior to asparahus, while in the 16th century John Gerarde wrote that “Rawe Purslane is much used in salads with oile, salt, and vinegar.”

Others speak of it as a palatable and easily procured pickle. Thus the always delightfully concrete John Evelyn in 1706 gave these detailed directions:

Lay the Stalks in an Earten-Pan; then cover them with Beer-Vinegar and Water, keeping them down with a competent Weight, to imbibe, three Days : Being taken out, put them into a Pot with as much White-wine Vinegar as will cover them again; and close the Lid with Paste, to keep in the Steam : Then set them on the Fire for three or four Hours, often shaking and stirring them : Then open the Cover, and turn and remove those Stalks which lie at the Bottom, to the Top, and boil them as before, till they are all a Colour. When all is cold, Pot them with Fresh White-wine Vinegar, and so you may preserve them the whole Year round.

Edible Parts : Stems, Leaves, Flowers
Uses
Purslane may be used fresh as a salad, stir-fried, or cooked as spinach is, and because of its mucilaginous quality it also is suitable for soups and stews. Australian Aborigines use the seeds to make seedcakes.

Greeks, who call it andrakla (αντράκλα) or glystrida (γλυστρίδα), fry the leaves and the stems with feta cheese, tomato, onion, garlic, oregano, and olive oil. In Turkey, besides being used in salads and in baked pastries, it is cooked as a vegetable similar to spinach.

According to Dr. Edward Palmer, the seeds of this and related species are used by the southwestern Indians for making mush or bread, the plants being placed in large piles, dried, and then pounded to free the seeds. Be sure first to wash off all mud and sad.

Therapeutic Uses
Purslane is widely used as a potherb in Mediterranean, central European and Asian countries.
Purslane is also widely used as an ingredient in a green salad. Tender stems and leaves are usually eaten raw, alone or with other greens. They are also cooked or pickled for consumption.
Purslane is used in various parts of the world to treat burns, headaches, stomach, intestinal and liver ailments, cough, shortness of breath and arthritis.
Purslane herb has also been used as a purgative, cardiac tonic, emollient, muscle relaxant, and in anti-inflammatory and diuretic treatments.
Purslane is popularly preserved for winter by pickling Purslane in apple cider vinegar with garlic cloves and peppercorns.
Purslane appears among a list of herbs considered to help benefit conditions such as osteoporosis and psoriasis.
Medicinal Uses

Purslane contains more omega-3 fatty acids (alpha-linolenic acid in particular) than any other leafy vegetable plant. Research published by Simopoulos states that Purslane has 0.01 mg/g of eicosapentaenoic acid (EPA). This is an extraordinary amount of EPA for a land-based vegetable source. EPA is an Omega-3 fatty acid found mostly in fish, some algae, and flax seeds.It also contains vitamins (mainly vitamin A, vitamin C, and some vitamin B and carotenoids), as well as dietary minerals, such as magnesium, calcium, potassium, and iron. Also present are two types of betalain alkaloid pigments, the reddish betacyanins (visible in the coloration of the stems) and the yellow betaxanthins (noticeable in the flowers and in the slight yellowish cast of the leaves). Both of these pigment types are potent antioxidants and have been found to have antimutagenic properties in laboratory studies

Known as Ma Chi Xian (pinyin: translates as “horse tooth amaranth”) in traditional Chinese medicine, its active constituents include: noradrenaline, calcium salts, dopamine, DOPA, malic acid, citric acid, glutamic acid, asparagic acid, nicotinic acid, alanine, glucose, fructose, and sucrose.Betacyanins isolated from Portulaca oleracea ameliorated cognition deficits in aged mice. Use is contraindicated during pregnancy and for those with cold and weak digestion. Purslane is a clinically effective treatment for oral lichen planus, and its leaves are used to treat insect or snake bites on the skin, boils, sores, pain from bee stings, bacillary dysentery, diarrhea, hemorrhoids, postpartum bleeding, and intestinal bleeding.

**** en.wikipedia.org/wiki/Portulaca_oleracea
Portulaca oleracea (Common Purslane, also known as Verdolaga, Pigweed, Little Hogweed, or Pusley, and Moss rose), is an annual succulent in the family Portulacaceae, which may reach 40 cm in height. Approximately forty varieties currently are cultivated.[1] It has an extensive Old World distribution extending from North Africa through the Middle East (called الرجلة or البقلة) and the Indian Subcontinent to Malesia and Australasia. The species status in the New World is uncertain: in general, it is considered an exotic weed, however, there is evidence that the species was in Crawford Lake deposits (Ontario) in 1430-89 AD, suggesting that it reached North America in the pre-Columbian era.[2] It is naturalised elsewhere and in some regions is considered an invasive weed. It has smooth, reddish, mostly prostrate stems and alternate leaves clustered at stem joints and ends. The yellow flowers have five regular parts and are up to 6 mm wide. Depending upon rainfall, the flowers appear at anytime during the year. The flowers open singly at the center of the leaf cluster for only a few hours on sunny mornings. Seeds are formed in a tiny pod, which opens when the seeds are mature. Purslane has a taproot with fibrous secondary roots and is able to tolerate poor, compacted soils and drought.

Culinary usage
Although purslane is considered a weed in the United States, it may be eaten as a leaf vegetable. It has a slightly sour and salty taste and is eaten throughout much of Europe, the middle east, Asia, and Mexico.[1][3] The stems, leaves and flower buds are all edible. Purslane may be used fresh as a salad, stir-fried, or cooked as spinach is, and because of its mucilaginous quality it also is suitable for soups and stews. Australian Aborigines use the seeds to make seedcakes. Greeks, who call it andrakla (αντράκλα) or glystrida (γλυστρίδα), fry the leaves and the stems with feta cheese, tomato, onion, garlic, oregano, and olive oil, add it in salads, boil it or add to casseroled chicken. In Turkey, besides being used in salads and in baked pastries, it is cooked as a vegetable similar to spinach. In the south of Portugal (Alentejo), "baldroegas" are used as a soup ingredient. Because of its high water content Purslane cooks down quite a bit. Pick more than you think you will need. Makes a quick cold soup in hot weather by cooking and blending together with other vegetables.
Purslane contains more omega-3 fatty acids (alpha-linolenic acid in particular[4]) than any other leafy vegetable plant. Research published by Artemis P. Simopoulos states that Purslane has 0.01 mg/g of eicosapentaenoic acid (EPA). This is an extraordinary amount of EPA for a land-based vegetable source. EPA is an Omega-3 fatty acid found mostly in fish, some algae, and flax seeds.[5] It also contains vitamins (mainly vitamin A, vitamin C, and some vitamin B and carotenoids), as well as dietary minerals, such as magnesium, calcium, potassium, and iron. Also present are two types of betalain alkaloid pigments, the reddish betacyanins (visible in the coloration of the stems) and the yellow betaxanthins (noticeable in the flowers and in the slight yellowish cast of the leaves). Both of these pigment types are potent antioxidants and have been found to have antimutagenic properties in laboratory studies.[6]
100 Grams of fresh purslane leaves (about 1 cup) contain 300 to 400 mg of alpha-linolenic acid.[7] One cup of cooked leaves contains 90 mg of calcium, 561 mg of potassium, and more than 2,000 IUs of vitamin A. A half-cup of purslane leaves contains as much as 910 mg of oxalate, a compound implicated in the formation of kidney stones, however, note that many common vegetables, such as spinach, also can contain high concentrations of oxalates.
When stressed by low availability of water, purslane, which has evolved in hot and dry environments, switches to photosynthesis using Crassulacean acid metabolism (the CAM pathway): At night its leaves trap carbon dioxide, which is converted into malic acid (the souring principle of apples), and, in the day, the malic acid is converted into glucose. When harvested in the early morning, the leaves have ten times the malic acid content as when harvested in the late afternoon, and thus have a significantly more tangy taste

Traditional medicine
Known as Ma Chi Xian (pinyin: translates as "horse tooth amaranth") in traditional Chinese medicine, its active constituents include: noradrenaline, calcium salts, dopamine, DOPA[disambiguation needed], malic acid, citric acid, glutamic acid, asparagic acid, nicotinic acid, alanine, glucose, fructose, and sucrose.[8] Betacyanins isolated from Portulaca oleracea ameliorated cognition deficits in aged mice.[9] Use is contraindicated during pregnancy and for those with cold and weak digestion.[8] Purslane is a clinically effective treatment for oral lichen planus,[10] and its leaves are used to treat insect or snake bites on the skin,[11] boils, sores, pain from bee stings, bacillary dysentery, diarrhea, hemorrhoids, postpartum bleeding, and intestinal bleeding

Companion plant
As a companion plant, Purslane provides ground cover to create a humid microclimate for nearby plants, stabilizing ground moisture. Its deep roots bring up moisture and nutrients that those plants can use, and some, including corn, will "follow" purslane roots down through harder soil that they cannot penetrate on their own. It is known as a beneficial weed in places that do not already grow it as a crop in its own right.

History

Widely used in East Mediterranean countries, archaeobotanical finds are common at many prehistoric sites. In historic contexts, seeds have been retrieved from a protogeometric layer in Kastanas, as well as from the Samian Heraion dating to seventh century B.C. In the fourth century B.C., Theophrastus names purslane, andrákhne (ἀνδράχνη), as one of the several summer pot herbs that must be sown in April (H.P 7.12).[12] As portulaca it figures in the long list of comestibles enjoyed by the Milanese given by Bonvesin de la Riva in his "Marvels of Milan" (1288).[13]
In antiquity, its healing properties were thought so reliable that Pliny advised wearing the plant as an amulet to expel all evil (Natural History 20.120).[12]
Purslane is one of the seven herbs used in the symbolic dish served at the nanakusa-no-sekku (七草の節句), the traditional Japanese new year ritual.
A common plant in parts of India, purslane is known as Sanhti, Punarva, or Kulfa.

Popular Culture

The name Verdolaga, associated with the plant that grows in South America is a nickname for Football clubs with green-white schemes in their uniforms, such as Colombia’s Atletico Nacional and Argentina’s Ferrocarril Oeste.

Pure Leverage 100% Commission

how to blog